Kim Cao Image
2019-07-15 19:30:11

5 cách chống lụt thế giới đã làm thay cho dùng lu hứng mưa


Ở Việt Nam đang có bàn luận về cách dùng lu 'chống lụt' nhưng thế giới đã có ít nhất là 5 cách ngăn nước lụt và hóa giải nạn ngập nước ở đô thị.


Sáng kiến 'dùng lu chống ngập' của đại biểu Hội đồng Nhân dân TP.HCM bà Phan Thị Hồng Xuân đã gây ra 'bão mạng' ở Việt Nam.

Sau đó, bà Xuân giải thích rằng cách nói theo kinh nghiệm dân gian của bà đã khiến một số người hiểu sai và chế giễu.

Cùng lúc, có nhiều ý kiến nói dùng lu, bể nước mưa chỉ phù hợp với nông thôn, nơi lượng nước thừa còn có thể ngấm xuống đất, chảy xuống ao, mương.

Còn ở thành phố, mặt bằng đã bị đổ bê-tông kín khiến nước không có lối thoát thì không số lượng lu hay bể cá nhân nào đủ để chống lụt.

Chống lụt vì thế cần các biện pháp tổng thể với công nghệ cao và kế hoạch lâu dài hơn là kỹ năng nhỏ lẻ, thủ công.

Nhưng mưa lũ nay là vấn đề lớn của thế giới và mọi quốc gia đều đã và đang tìm giải pháp phòng chống mà Việt Nam có thể học hỏi.

Anh Quốc chẳng hạn là nước có mưa nhiều nhưng là mưa nhỏ.

Trong năm 2014, đột nhiên Anh nhận lượng mưa lớn nhất trong 248 năm, gây úng lụt cho hàng vạn hộ gia đình và thiệt hại 1,1 tỷ bảng.

Điều này thúc đẩy chính quyền phải sáng tạo hơn trong các cách chống lụt.

1. Đê và đập di động để chống lụt và nước tràn

Quanh London hiện đã có các loại đập chắn linh hoạt trên sông Thames (Thames Barriers) được xây dựng.

Hệ thống này có thể đóng, mở, nâng các lớp, xoay tấm chắn để chuyển dòng tháo nước, tùy nhu cầu nhằm ngăn lụt lội cho thủ đô Anh.

Nhưng từ 2015, Anh cho thiết kế nhiều loại đập nhẹ, gọi là 'lightweight sectional metal barriers', có thể thay đổi cấu trúc và đặt vào các điểm cần ngăn nước tràn.

Khi hết lụt, người ta dỡ bỏ các loại đập này.



Đập di động có bộ khung kim loại và phần ruột bằng vật liệu không thấm nước.

Chính các bộ phận này nhận nước lụt để trở thành khối trọng lượng nặng để giữ vỏ đập tại chỗ. Đây là cách dùng nước lụt ngăn nước lụt.

Loại tấm chắn linh hoạt sẽ phụ trợ cho việc nâng cao bờ đê để bảo vệ vùng dân cư.

2. Can thiệp và điều chỉnh dòng lũ

Các vùng miền Trung Anh nằm xa sông lớn nên việc điều tiết dòng nước lụt khi các sông nhỏ bị tràn bờ là rất quan trọng.

Người ta đem vào áp dụng một hệ thống liên hoàn các ao nhỏ, tấm chắn, đập di động và cửa tháo lũ có kiểm soát cho nước sông chảy vào đồng ruộng và vùng trũng.

Đây cũng là cách 'chống lụt' theo nguyên tắc 'Tạo không gian cho nước' (Make Space for Water) áp dụng ở Anh, Đức, Hà Lan từ 1999.

Về nguyên tắc, người ta hiểu rằng không thể nào "cưỡng bức dòng nước" được nên chỉ có cách tạo chỗ để tháo nước, và dẫn dòng nước thoát đi.

3. Hút nước lụt qua hệ thống cống và bể bền vững

Gọi là 'sustainable drainage' cách này nhắm tới việc dẫn nguồn nước thoát nhanh khỏi đô thị, nơi có nhiều mặt bằng đã bị bê-tông hóa, và nhà cửa là vật liệu không thấm nước.

Các cơn mưa lớn thường tạo một khối lượng nước khổng lồ nhanh chóng làm đầy hệ thống cống rãnh và gây ngập úng: nước bẩn tràn trở lại mặt phố.



Từ 2010, Luật chống lụt (Flood Act) ở Anh buộc các công ty xây dựng phải tính toán và thực hiện làm sao để nước từ mái nhà chảy ra khu vực có mặt đất (ground) thấm nước (rìa phố, công viên...) mà không đổ thẳng xuống cống ngầm của thành phố.

Còn gọi là hệ thống thấm tự nhiên (infiltration), cách làm này giúp cho cống rãnh không bị ngập, nhưng tất nhiên việc để nước mưa thấm xuống đất có hiệu quả tùy vào khoảng đất chưa bị xây cất, đổ bê-tông ở từng thành phố.

Về nguyên tắc, xử lý nước mưa được xếp vào hai dạng: thấm thoát nước bằng vật liệu cứng (grey drainage - đường ống, cống, vỉa hè thấm nước), và bằng chất liệu tự nhiên (green drainage - mái nhà trồng cây - green roof, bãi cỏ, công viên...)

Cùng lúc, người ta cho xây dựng các bể chứa lớn dưới ngầm (large detention basins) hoặc hồ chứa để hỗ trợ việc thu nước mưa rồi bơm ra dần sau trận lụt.

Tại London từ 2007 đã có chừng tám khu vực quản trị nước (water catchments), ở Beckton, Beddington, Crossness, Deephams, Hogsmill, Longreach, Mogden và Riverside cùng gần 897 điểm nhỏ (sub-catchment) thuộc 32 hội đồng địa phương.

Các dự án này giúp đô thị 8 triệu dân xử lý nước thải, chống lụt và bảo vệ môi trường cùng toàn bộ khu vực hạ lưu sông Thames.

Thủ đô Nhật Bản từ cuối 2015 đã hoàn tất hệ thống bể ngầm (cistern) khổng lồ, có độ sâu 76 mét, diện tích 14 nghìn mét vuông, trị giá 2 tỷ USD.

Các bể này thu nhận nước lụt từ bốn con sống lớn phía Bắc Tokyo.

4. Nạo vét dòng sông, lòng hồ

Gọi là 'dredging', cách làm này như đã thực hiện ở Somerset sau trận lụt lớn tháng 1/2014: người ta nạo vét đáy hồ và sông nhằm tăng thể tích chứa nước khi có mưa to.

Việc tháo bỏ đá, cát ở đáy sông cũng giúp cho dòng chảy nhanh hơn, đưa nước lụt tháo đi nhanh về hạ lưu.

Tuy nhiên, cách này bị nói là gây hại môi trường và chưa chắc đã hiệu quả trong chống lụt to.

Chưa kể sau một trận lụt to, bùn đất lại tích xuống đáy sông hồ và công việc nạo vét cần thực hiện lần nữa.

Dù vậy, cách nạo vét lòng sông đang được tính đến ở Jakarta sau trận lụt năm 2013 làm ngập úng 40% diện tích thành phố này.



Tại Indonesia, nhu cầu nạo vét sông còn đến từ hai lý do: trầm tích của sông ngòi Đông Nam Á luôn nhiều hơn các sông châu Âu, và rác thải đổ xuống các sông, kênh rạch ở riêng Jakarta là 6000 tấn một ngày, gây tắc nghẽn nghiêm trọng.

Tuy thế, toàn bộ chương trình phòng ngừa lụt của Jakarta đã được hàng trăm triệu USD tiền viện trợ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) mà đến nay vẫn chưa triển khai được bao nhiêu.

5. Chống lụt bằng chính sách bảo vệ môi trường tổng thể

Tại châu Âu đã có cách chính sách chống lụt và thiên tai hiệu quả nhất.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng biến đổi khí hậu, tan băng ở các địa cực, nước biển dâng, mưa bão dữ dội là cách vấn đề lớn, mang tính toàn cầu.

Các quốc gia cần có chính sách 'Flood Risk Management' (Xử lý rủi ro vì lũ lụt) một cách tổng thể hơn, dài hơi hơn, thay vì đối phó khi thiên tai xảy ra.

Đó là trồng rừng ở thượng nguồn các sông ngòi, để cây to giữ đất tránh sụt lở, và thảm rừng xanh thấm nước ngay từ đầu trận mưa.

Đó là duy trì các hồ nước gần đô thị lớn (letting pools) có đường dẫn thông với sông ngòi quanh vùng dân cư để điều tiết nước.

Chẳng hạn, Houston của Mỹ đang lên kế hoạch xây hồ lớn ở ngoại ô, trị giá 400 triệu USD để đề phòng lụt to.

Cuối cùng, con người cần ý thức được việc duy trì sông ngòi như hệ thống điều phối nước tự nhiên có sẵn.

Ở châu Âu, công tác này đã được thực hiện có hiệu quả hơn trước.

Anh Quốc lên kế hoạch phục hồi 1500 km sông trên cả nước qua 2700 dự án nhỏ thuộc kế hoạch mang tên 'National River Restoration Inventory'.

Cho đến nay chừng 1500 dự án đã hoàn tất, nhiều đoạn sông bị lấp nay được khơi lại.



Ở Tây Ban Nha, sông lớn Duero nay đã được chảy tự do với mọi đập chắn bị dỡ đi.

Ở Pháp, nhờ cuộc vận động của giới bảo vệ môi trường, sau 20 năm, sông Loire đã 'thoát' khỏi con đập Serre de la Fare, gần Le Puy.

Tại Đan Mạch, sông Skjern "giành lại" được các đầm lầy ven bờ để nước lụt tràn ra tự nhiên.

Nhiều khi, việc cứu dòng sông và chống lụt cần hợp tác nhiều nước như dự án với sông Danube, chảy qua 19 nước châu Âu.

Trong nhiều năm sông Danube bị nắn dòng và cắt đứt khỏi 80% vùng nước ngập tự nhiên của nó.

Nhưng nay, hợp tác quốc tế đã phục hồi gần hết các khu vực đó, vừa tạo môi trường tuyệt vời cho hệ sinh thái ven sông vừa lập các khu chứa nước tràn.